Thứ Tư, 30 tháng 10, 2019
Thứ Tư, 27 tháng 3, 2019
Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018
Phát biểu họp lớp A sinh địa Trường SP Vĩnh Phú
GẶP MẶT CỰU GIÁO SINH LỚP A SINH ĐỊA
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM VĨNH PHÚ KHOÁ HỌC 1975-1978 Lần thứ 3
Kính thưa: các thầy giáo, cô giáo, cùng
toàn thể các bạn thân mến!
Hôm nay trong không khí đầm ấm phấn khởi của ngày gặp
mặt, ngày đoàn tụ thầy, trò lớp A sinh - địa, khoá 4 trường sư phạm 10+3 Vĩnh
Phú lần thứ 3, cách đây 40 năm kể từ ngày ra trường (tháng 7/1978- tháng
6/2018). Đại diện cho các cựu sinh viên của lớp, tôi xin trân trọng gửi lời cảm
ơn, lời chúc sức khoẻ tới các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn lời chúc mừng
sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt.
Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn!
Bốn mươi ba năm đã trôi qua kể từ khi chúng em mới bước
chân vào cổng trường sư phạm 10+3 Vĩnh Phú tại xã Văn Lung- cách thị xã Phú Thọ
4Km. Kỳ diệu thay hôm nay sau 40 năm ngày ra trường các thầy cô giáo cùng bạn cựu sinh viên từ khắp mọi nơi về hội tụ tại
đây, để cùng nhau hồi tưởng và nhớ lại những kỷ niệm của thời sinh viên ngời sáng
ước mơ, thơm mùi hương long não.
Ba năm học đầy ắp những sự kiện, ba năm sống động của
những tháng ngày trên đất Phú Thọ, đã để lại trong chúng em những kỷ niệm sâu sắc
và tình cảm sâu nặng với mái trường thân yêu, nơi đào luyện những kỹ sư tâm hồn,
những nhà giáo đầy lòng thân ái và bao dung. Tôi muốn quay lại bánh xe lịch sử
của 43 năm về trước, tới lớp A sinh địa khoá 4, còn nhớ ngày đầu nhập học
Ta nhớ đinh ninh buổi đầu gặp gỡ
Mắt nhìn nhau bỡ ngỡ chưa quen
Đêm đông đường sáng ánh đèn
Ngày xuân sách vở đã quen nhau dần.
Trường sư phạm
thầy Nguyễn Kim Trân làm Hiệu trưởng (sau này thầy giữ trọng trách là Phó chủ tịch
UBND tỉnh Vĩnh Phú) thầy Vũ Quá Hải làm Hiệu phó, thầy Đặng Hồng Can làm Trưởng
khoa sinh - hoá - địa. Năm học thứ nhất lớp A sinh- địa do thầy Kiếm làm chủ
nhiệm, lớp có 42 người, trong đó 38 nữ chỉ có 04 nam (được gọi là mì chính cánh),
ngày ấy hầu hết các bạn sinh viên đều quê hương Vĩnh Phú, tuổi sàn sàn xấp xỉ
nhau hầu hết các bạn đều là học sinh phổ thông lần đầu tiên về mái trường Sư phạm
nên đã nhanh chóng làm quyen và hoà nhập môi trường mới, hình ảnh thầy Kiếm tất
bật, trách nhiệm với lớp để đưa lớp vào nề nếp ngay từ những ngày đầu năm học.
Năm học đầu tiên trong không khí hăm hở, trăn trở bước
vào nghề sư phạm bao nhiêu vấn đề mới đặt ra, các hoạt động: học tập, lao động,
văn nghệ, thể thao và sinh hoạt nội trú đã diễn ra sôi nổi ngay từ năm học đầu.
Quyên sao được những buổi tập văn nghệ bên ánh đèn dầu do thầy Ngọc Anh dậy môn
thể dục hướng dẫn và những buổi thi Văn nghệ khoa với các tiết mục đặc sắc như:
múa sạp, múa chàm rông, hát múa Việt Nam quê hương tôi…Thế rồi chưa hết học kỳ
2 năm học thứ nhất, thầy Kiếm giáo viên chủ nhiệm lớp chuyển công tác vào Miền
nam, cô Nguyễn Thu Phương tiếp tục chủ nhiệm lớp- một cô giáo dịu hiền, tận tâm
với trò, tiếp tục duy trì các phong trào của lớp để cuối năm học lớp A sinh - địa
đã đứng đầu khoa về thành tích học tập và nề nếp.
Cuối năm học thứ 2, Trường được chuyển ra địa điểm mới
tiếp quản Khu K100 gần trung tâm thị xã
Phú Thọ. Ôi những đêm trực ban, tuần tra canh giữ kho lương thực trong trời đông
giá lạnh, những đêm báo động hành quân bừng bừng khí thế, những buổi thầy trò
lao động trồng sắn vất vả nhưng đầy khí thế ở Khải Xuân, những buổi thực hành mổ
tôm, cá, mổ chim, rồi làm báo tường thâu
đêm…Năm học thứ 3, cô chủ nhiệm lại nhận nhiệm vụ vào Miền nam công tác, thầy
giáo Nguyễn Văn Chúc mới chuyển từ Miền nam ra tiếp tục chủ nhiệm lớp, hình ảnh
người thầy với phong cách điềm đạm, thanh lịch, giầu kinh nghiệm đã nhanh chóng
tổ chức tốt các nề nếp của lớp và đâỷ mạnh các phong trào thi đua, khích lệ giáo
sinh tham gia hội thi giảng “ giáo sinh giỏi của trường”, tự hào thay lớp chúng
ta đạt 1 giải nhất (bạn Tịnh) 2 giải nhì ( bạn Nguyệt Hoà, bạn Hải ) và lớp đạt
thành tích cao nhất Khoa khi kết thúc khoá học…Chúng em nhớ mãi tập thể các thầy
cô giáo nhiệt tình và trách nhiệm là những tấm gương sáng luôn khắc sâu trong tâm
khảm chúng em, quyên sao những giờ giảng
của thầy Trúc, cô Phương, cô Bích, thầy Vận (môn địa lý), cô Tuyến, thầy Mực,
thầy Can, thầy Phiến (môn sinh vật), cô
Thu (môn kỹ thuật), thầy Bê (môn giáo dục), thầy Khanh (môn chính trị), thầy Thụ
(môn tâm lý), thầy Anh (môn thể dục) thầy Vệ (môn hoạ) v.v. như một chất men
say lôi cuốn chúng em gắn bó với nghề dạy học và đi cùng chúng em trong suốt cuộc
đời dạy học;
Ba năm học trôi qua bao kỷ niệm đẹp đẽ của Trường vẫn
mới nguyên trong ký ức trong mỗi người cho đến tận hôm nay, quyên sao được
những kỷ niệm thời học trò hồn nhiên, trong sáng, những tình bạn chia ngọt sẻ
bùi với những khó khăn trong cuộc sống “ ăn sư, ở phạm” những bữa cơm đơn sơ
với bo bo, mỳ luộc, bột sắn xôi, rau tập tàng và bát canh “toàn quốc”, những
buổi cùng nhau truy bài, học ôn, tranh luận, cùng nhau giải đáp thắc mắc trong
học tập và còn biết bao kỷ niệm về những ngày sống động đã rèn luyện bản lĩnh
vững vàng cho người thầy giáo tương lai…Kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời
sinh viên là chuyến đi thực địa một tuần vào tháng 6 năm 1978 tại tỉnh Quảng
Ninh do thầy chủ nhiệm Nguyễn Văn Chúc làm trưởng đoàn, nhờ chuyến đi ấy chúng
ta được biết Lục đầu giang, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, mỏ than lộ thiên Hà Tu,
với các mẫu hoá thạch còn in đậm trên từng vầng than đá; được thăm nhà máy chế
biến than Cẩm Phả, được cùng nhau lướt sóng trên con tàu Hạ Long 01 với hơn 4
giờ đồng hồ, được đắm mình trong hơi thở của biển và đôi mắt no tròn trước cảnh
Vịnh Hạ Long sơn thuỷ hữu tình, được khám phá các hang Đầu gỗ, hang Bồ nông với
nhiều cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú, rồi cùng nhau ngụp lặn trong nước biển xanh nơi
Bãi Cháy, cứ ngày đi tham quan tối về nghỉ nhờ tại phòng lớp học của trường cấp
2 Bãi Cháy. Chính qua hoạt động ấy tình thầy trò, tình bạn bè càng thêm thắm
thiết, yêu thương. Từ chuyến đi thực địa trở về mỗi chúng ta đều tràn ngập niềm
tin, căng tròn bầu nhiệt huyết, hăng hái học tập cho kỳ thi tốt nghiệp cuối
khoá. Để rồi ngày 07 tháng 7 năm 1978 giữa mùa hoa phượng đỏ rực rỡ sân trường,
lớp chúng ta phải chia tay nhau mỗi người đi một nẻo theo sự phân công của tổ
chức. Có 8 bạn phải đi miền núi Thanh Sơn khó khăn nhất của tỉnh, đó là các
bạn: Hải, Bình, Hương, Hiền, Đức, Phạm Lan, Tịnh, Thuý, có bạn sau 7 năm trời
mới rời đất Thanh Sơn như bạn Tịnh. Kể từ đó đến nay hầu hết các bạn gắn bó với
sự nghiệp trồng người, nhiều bạn đã học tiếp lên đại học, nhiều bạn đã và đang
là những nhà quản lý giỏi như: bạn Hải, bạn Nguyệt Hoà, bạn Đông, bạn Châu, bạn
Việt... nhiều bạn là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh như bạn Tịnh, bạn Nguyệt Hoà,
bạn Tuấn, bạn Phan Bình… Một số bạn chuyển công tác ra ngoài ngành giáo dục như
bạn Ngọc (Công đoàn Bộ KH&CN), bạn Hải (Sở Nội vụ VP), bạn Xuân (Trường Cao
đẳng Thương mại Bộ Công Thương) và bạn Phương Lan trở thành giám đốc doanh
nghiệp nhà nước ở Hà Nội. Cho dù ở bất cứ cương vị nào chúng ta đều là những
công dân tốt, người cán bộ tốt, chúng em không bao giờ quyên công lao giáo dục,
giảng dậy của các thầy, các cô đã rèn rũa, đào tạo chúng em nên người hôm nay.
Sau 31 năm ra trường, ngày 21/6/2019 Lớp tổ chức gặp
mặt lần thứ nhất tại Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc với 30 bạn và 3 thầy cô
giáo tham dự. Nhiều người đây là lần đầu tiên được gặp lại kể từ ngày ra trường,
lòng chúng ta không nén nổi niềm xúc động của ngày tái ngộ. Tại buổi họp chúng
ta đã được nghe những lời tâm sự và dặn dò của các thầy cô giáo, rồi lần lượt
từng bạn giới thiệu về bản thân và gia đình, cùng nhau ôn lại những kỷ niệm
không quyên của một thời nhất quỷ, nhì ma thứ ba học trò, bầu Ban liên lạc lớp.
Gặp mặt lần 2 vào 2 ngày từ 7 đến 8/7/2012 tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Phúc
rồi sau đó lên núi Tam Đảo với 22 bạn và 3 thầy cô giáo tham dự, thầy trò cùng
nhau vãn cảnh Thác Bạc, cùng múa hát tập thể…
Kính thưa các thầy giáo, cô giáo và toàn thể các bạn!
Quả đất tròn và mãi mãi vẫn quay, không thể kể hết ý
nghĩa của những lần gặp mặt, chỉ biết rằng đó là tình người, tình đời còn đọng
mãi ở mỗi con chữ của thầy và trò lớp A SĐ. Gặp mặt lần 3 này sau 40 năm ra
trường, hầu hết các bạn đã nghỉ hưu và tất cả chúng ta đã vào cái tuổi ngoại
lục tuần, chúng ta đều lên ông, lên bà có cháu nội, cháu ngoại, nhưng vẫn mang đầy
niềm tin và hy vọng, tôi mong rằng sau buổi gặp mặt này tình thầy trò, tình bạn
bè của lớp chúng ta ngày càng thắm thiết, bền lâu để cùng nhau chia ngọt sẻ bùi
những năm tháng mai sau.
Có nhà thơ đã viết:
“Dù cho tung cánh muôn phương
Công thầy, nghĩa bạn,
tình trường không quyên”
Kính thưa các thầy cô giáo thay mặt cho các bạn cựu
sinh viên lớp A sinh – địa, khoá 4 trường sư phạm VP xin được cảm ơn các thầy cô
đã không quản ngại đường xá xa xôi hay tuổi cao sức yêú để về đây gặp mặt chúng
em, cảm ơn các bạn cựu sinh viên đã xắp xếp thời gian về đây xum họp.
Tiền tài, danh vọng như những áng mây trôi, tình thầy
trò, tình bạn, tình người là còn mãi mãi.
Xin kính chúc
sức khỏe của các thầy cô và toàn thể các bạn, chúc cho duyên kỳ ngộ của thầy
trò lớp A SĐ bền đẹp mãi mãi với thời gian. Xin trân trọng cảm ơn./.
Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017
Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017
BÀI PHÁT BIỂU TẠI LÀO
BÀI PHÁT BIỂU GẶP MẶT CÁC CỰU HỌC SINH
TRƯỜNG LÀO T1- VĨNH PHÚ
Việt Nam
và Lào là hai quốc gia láng giềng- núi liền núi, sông liền sông; đặc biệt và
cao cả hơn là sự thủy chung, gắn bó bền chặt trong suốt chiều dài dựng nước,
giữ nước từ nguyên thủy tới nay. Ý thức được tầm quan trọng của sự đoàn kết gắn
bó, vì sự tồn vinh của mỗi quốc gia, dân tộc, mà mối tình đoàn kết hữu nghị này
được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xu Pha Nu Vông và tổng bí thư Cay Xỏm xây
dựng và phát triển; được hai Đảng, hai Nhà nước CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào
giữ gìn và phát triển thêm sâu sắc; trở thành tình cảm thiêng liêng, gắn bó
thủy chung, quan hệ đặc biệt của hai Quốc gia, Dân tộc. Vì vậy việc đào tạo,
bồi dưỡng, giáo dục cho một bộ phận con em các bộ tộc Lào, cho một bộ phận cán
bộ của CHDCND Lào được tin cậy, gửi gắm tại Việt Nam từ rất sớm.
Trường Hữu nghị T78- nuôi dưỡng, giáo dục học sinh Lào
tại Việt nam được thành lập từ năm 1959. Tháng 5 năm 1969 giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang
diễn ra gay gắt, ác liệt, đáp ứng đề nghị của
Đảng và Mặt trận yêu nước Lào, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quyết định cho
thành lập 4 trường phổ thông hữu nghị trên miền Bắc chuyên tiếp nhận, nuôi
dưỡng, giáo dục, đào tạo con em các bộ tộc Lào (Trường T1 ở Vĩnh Phú, T2 ở Bắc
Giang, T3 và T4 ở Thanh Hóa).
Tỉnh Phú Thọ ngày nay (khi ấy là Vĩnh Phú)
vinh dự được Đảng và Chính phủ Việt nam giao trách nhiệm thành lập trường Phổ
thông miền núi số 1 (còn gọi là Trường T1 hay Trường Lào). Ban đầu Trường đóng
tại huyện Thanh Sơn, sau đó chuyển ra Đào Xá (Thanh Thủy) và đến năm 1977
trường chuyển về cây số 7,
xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ. Từ
năm 1969 Trường T1 đã tiếp nhận 1969 cháu nhỏ của Lào gửi học từ vỡ lòng rồi
tiếp tục học lên các cấp học. Trong 15 năm (1969-1984), trường đã tiếp nhận đào
tạo 3.784 học sinh từ cấp I, cấp II đến hết cấp III (trong đó từ năm 1977 đến
1984 có 1.778 học sinh theo học cấp III- cấp THPT ngày nay). Khi trường Lào T1 từ Thanh Thủy về Hà Lộc, thị xã Phú
Thọ, Trường chỉ còn nhiệm vụ đào tạo chương trình phổ thông cấp 3; Đầu năm 1977
nhà trường có khoảng 300 CB,GV,NV. Hiệu trưởng là thầy Trần Văn Mùi, hiệu phó
gồm các thầy Đặng Vũ Chừng, Nguyễn Văn Kỷ, Cao Xuân Thìn và thầy Khăm Cài.
Thời kỳ học sinh Lào ở trường T1- Phú thọ
(1969- 1984) là thời kỳ Việt Nam
gặp nhiều khó khăn trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả nước tập trung giải
phóng Miền nam thống nhất đất nước. Sau giải phóng miền Nam vừa khắc phục hậu quả chiến
tranh, phát triển kinh tế thì lại xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc; do đó
kinh tế đất nước chậm phát triển, đời sống nhân dân rất khó khăn. Mặc dù vậy
Đảng và Nhà nước Việt Nam trực tiếp là đội ngũ CB,GV,NV trường Lào T1 vẫn rất
cố gắng để chăm sóc cho các học sinh Lào như chính con em của mình, đảm bảo cơ
sở vật chất và lương thực, thực phẩm để các em đủ no và đủ ấm; được chăm sóc và
quan tâm như đang ở tại quê hương của mình.
Tuy vậy, nhưng các em vẫn gặp nhiều khó
khăn trong sinh hoạt (như điện, nước, đồ dùng thường ngày còn thiếu thốn, còn
nhiều bất cập về chế độ ăn nghỉ…v.v…); đặc biệt là nhu cầu tình cảm vì xa cha
mẹ ở lứa tuổi còn nhỏ. Cũng thật may là
chính các em đã rất nghị lực vượt qua tất cả những khó khăn kể trên. Tất cả đều
tốt nghiệp phổ thông, nhiều em học giỏi, nhiều em thi đạt giải tỉnh, giải quốc
gia trong một số kỳ thi. Phong trào thể thao, văn nghệ sôi nổi đạt nhiều giải
cao cấp tỉnh. Đó là động lực giúp cho các CB,GV ,NV thấy
yên lòng; yên tâm gắn bó với các em, bớt những lo lắng và tiếp tục cố gắng vượt
mọi khó khăn để chăm sóc, dạy dỗ các em được tốt hơn với tình yêu thương, tinh
thần quốc tế cao cả. Và cả hai phía đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Kể từ ngày những lưu học sinh Lào cuối
cùng rời trường, đã có nhiều đoàn cựu học sinh Trường Lào T1 về thăm các thầy
cô năm xưa; chứng tỏ nghĩa tình quý báu của cựu học sinh Lào đối với trường,
với con người và mảnh đất Phú Thọ, với Việt nam thân yêu.
Trên mảnh Phú Thọ thân yêu, lớp lớp
học sinh con em các bộ tộc Lào đã được nuôi dưỡng, giáo dục, lớn lên, trưởng
thành, lần lượt trở về nước tiếp tục học tập hoặc tham gia vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó có trên 300 em đã được gửi ra nước ngoài theo
học tại các trường Đại học tại: Liên Xô (cũ), Ba Lan, Hunggary, Bungary, Tiệp
Khắc, Đức, Mông Cổ…
Từ mái trường Phổ thông miền núi số 1 – Vĩnh
Phú, nhiều thế hệ lưu học sinh Lào trở về quê hương, tiếp tục phấn đấu trở
thành những cán bộ
lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương, các bộ ngành đến địa phương, trong nhiều lĩnh
vực. Nhiều em đang là các Doanh nhân thành đạt.
Các thế hệ cựu học sinh Lào đã, đang phục vụ
tích cực cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước Lào và cùng xây đắp nên tình
đoàn kết hữu nghị keo sơn, gắn bó thủy chung, son sắt giữa hai nước Việt - Lào.
Điển hình là các cựu học sinh sau: Khăm Phăn Phởi Nha Vông, Ủy viên Trung Ương Đảng, Tỉnh trưởng
Tỉnh Bò Kẹo; Búp Phả
Khên Vông Đa La, Thứ
trưởng, phó chủ nhiệm Văn phòng Cơ quan Phủ Thủ tướng (Văn Phòng Chính Phủ); Sẻng Phết Hung
Bun Nhuông, Thứ
trưởng Bộ Ngoại Giao; Khăm Pao, Phó tỉnh trưởng
Tỉnh Xiêng Khoảng; Khăm Phởi Kéo
KinnaLi, Phó
trưởng ban Hợp tác Lào-Việt Nam (Ngang Thứ trưởng); Khăm Sao Cay Sông, Phó tổng thư ký
Quốc hội (Ngang Thứ trưởng).
Với
những thành tích đạt
được trong công tác nuôi
dưỡng, giáo dục, đào tạo, Trường Phổ thông miền núi số 1 - Vĩnh
Phú đã được Nhà nước Việt Nam tặng Huân
chương Lao động hạng Ba năm 1977; Huân
chương Lao động hạng Nhì năm 1981 và được nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân
Lào tặng Huân chương Tự do hạng Nhất năm 1981; Huân chương Tự do hạng Nhì năm
1984; và nhiều Huân, huy chương cho cán bộ, giáo viên, nhân viên (CB, GV, NV)
của Trường.
Đã 15 năm trôi qua kể từ khi lớp lưu
học sinh Lào cuối cùng rời khỏi trường (tháng 7/1984), Trường Phổ thông miền
núi số 1 - Vĩnh Phú đã kết thúc nhiệm vụ quốc tế của mình, nhưng nhân dân Phú
Thọ vẫn nhắc tới “trường Lào” và những người bạn học sinh Lào từng có một thời
học tập, chung sống nơi đây. Trường là niềm tự hào và nơi kết nối tình đoàn kết
hữu nghị sắt son Việt - Lào trên quê hương đất Tổ - Hùng Vương.
Sau năm 1984, khi kết thúc nhiệm vụ quốc
tế, các cán bộ và thầy cô của Trường Lào T1 được chuyển về các cơ quan, trường
học nơi quê hương của mình ở nhiều tỉnh, thành khác nhau như: Hà Nội, Phú Thọ,
Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hà Nam…hoặc chuyển ngành nghề khác. Tất cả đều cố gắng
vươn lên khẳng định mình trong cuộc sống và xã hội. Trong đó có nhiều CB, GV
trưởng thành là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cơ quan, đơn vị của cơ quan Đảng
Nhà nước ở địa phương và trung ương. Đó là sự khẳng định về uy tín và vai trò
rèn luyện đào tạo đội ngũ của trường Lào T1. Có thể kể tên vài cá nhân tiêu
biểu là: Thầy Đặng Vũ Chừng, Hiệu phó trường T1, sau là nhà giáo ưu tú, Phó
hiệu trưởng Trường trung học phổ thông chuyên Hùng Vương, một trường đào tạo
học sinh năng khiếu có tiếng của tỉnh Vĩnh Phú và Việt Nam; thầy Phạm Văn Hoặc
cán bộ quản lý học sinh của trường T1, sau là Chánh Văn phòng UBND tỉnh Vĩnh
phú, Vĩnh Phúc; Cô Dương Thị Tuyến giáo viên toán , sau là Ủy viên Ban thường
vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc; cô Kiều Đỗ Thủy Hà giáo viên Anh
văn, nay là Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Trung tâm hỗ trợ phát triển Doanh
nghiệp nhỏ SEDA thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam; thầy Chung
Văn Vinh giáo viên toán, nay là Thượng
tá quân đội- Giám đốc Trung tâm thuộc Tổng công ty kinh tế kỹ thuật, Bộ Quốc
phòng; và nhiều sự trưởng thành của các thầy cô giáo khác.
Kể từ khi Trường Lào T1 kết thúc nhiệm vụ
tới nay đã 33 năm (1984-2017) đó là thời
gian thực sự đáng kể đối với đời người; nhiều thăng trầm biến cố đã xẩy ra, tuy
vậy tình cảm và những kỷ niệm còn lưu đọng sâu sắc trong các CB, GV, NV đã từng
công tác tại trường. Duyên lại gặp nhau, các CB, GV trường Lào T1 đã bàn bạc và
quyết định tổ chức một chuyến tham quan sang Lào vừa để thăm đất nước mà mình
đã vinh dự thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả vừa có cơ hội gặp gỡ lại những cựu
học sinh thân yêu mà mình đã dạy dỗ, hướng dẫn và chứng kiến sự trưởng thành
của các em. Do điều kiện cụ thể của mỗi người, nên số thành viên tham gia đoàn
được 40 người, dù chưa đầy đủ nhưng chúng ta gặp được nhau thế này là quý lắm
rồi- hạnh phúc lắm rồi.
Chúng tôi rất cảm động trước sự đón tiếp
và tình cảm mà các em dành cho Đoàn từ khâu chuẩn bị, kết nối để có được chuyến
đi và buổi gặp mặt hôm nay. Đặc biệt là sự hiện diện và rất chu đáo của các cựu
học sinh có mặt tại buổi gặp mặt này. Rất trân trọng tình cảm mà các em dành
cho đất nước Việt Nam .
Rất vui, hạnh phúc và thành tâm chúc mừng sự thành công cùng những đóng góp của
các em cho sự phát triển của nước CHDCND Lào và tình hữu nghị của hai quốc gia
Việt- Lào.
Xin
có lời thăm hỏi tới gia đình của các em, của các cựu học sinh trường Lào T1
chưa có điều kiện để gặp mặt tại đây.
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho đoàn của Đại sứ quán Việt Nam tại CHDCND Lào;
Trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quí báu của Công ty PT Sole Company Limited - nhà
tài trợ chính cho Đoàn để hoàn thành được hành trình hữu nghị và lịch sử này.
Chúc sức khỏe, thành công, hạnh phúc và hữu nghị.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










+copy.jpg)